Đèn huỳnh quang hay gọi đơn giản là đèn tuýp (hay đèn ống) gồm điện cực (vonfram) và vỏ đèn phủ một lớp bột huỳnh quang (hợp chất chủ yếu là phốt pho). Ngoài ra, người ta còn bơm vào đèn một ít hơi thủy ngân và khí trơ (neon, argon...) để làm tăng độ bền của điện cực và tạo ánh sáng màu. Nguyên lí làm việc: Khi đóng điện, hiện tượng phóng điện giữa hai điện cực làm phát ra tia tử ngoại (tia cực tím). Tia tử ngoại tác dụng vào lớp bột huỳnh quang làm đèn phát sáng. Ngoài ra, để giúp cho hiện tượng phóng điện xảy ra, người ta phải lắp thêm chấn lưu (tăng phô) và tắc te (chuột bàn). Do ít tỏa nhiệt ra môi trường nên đèn huỳnh quang sẽ cho hiệu suất phát sáng cao hơn nhiều so với đèn sợi đốt và lại có tuổi thọ cao hơn. Bình quân, dùng đèn huỳnh quang tiết kiệm hơn đèn sợi đốt 8 đến 10 lần. Hiện nay, ngoài thị trường xuất hiện đèn huỳnh quang thu nhỏ (còn gọi là đèn compact). Nó cũng rất giống với đèn huỳnh quang nhưng hiệu suất phát quang cao hơn và tiết kiệm điện năng tốt hơn. Xem công suất đèn huỳnh quang 1 quá trình hình thành đèn huỳnh quang Sự phát quang của một số loại đá cũng như từ một số chất khác đã có từ rất lâu trước khi bản chất của nó được con người hiểu rõ. Vào giữa thế kỷ 19, những người làm thí nghiệm đã quan sát được tia sáng bắt nguồn từ bình thủy tinh được hút chân không có một dòng điện chạy qua. Một trong những người đầu tiên giải thích hiện tượng này, ngài George Stokes đến từ đại học Cambridge, đã đặt tên cho hiện tượng này là "huỳnh quang" theo tên của Fluorite, một loại khoáng chất mà nhiều mẫu thử phát sáng rất mạnh vì có lẫn tạp chất. Hai nhà khoa học người Anh là Michael Faraday vào những năm 1840 và James Clerk Maxwell vào những năm 1860 đã giải thích hiện tượng này dựa vào bản chất của dòng điện và ánh sáng. Heinrich Geissler, một thợ thổi thủy tinh người Đức, là người đầu tiên phát minh ra đèn phóng khí - ống Geissler, cấu tạo bao gồm một ống thủy tinh được hút chân không một phần với điện cực bằng kim loại ở 2 đầu ống. Khi có một điện thế cao được đặt lên 2 điện cực, bên trong ống phát sáng. Bằng cách đặt vào bên trong những chất hóa học khác, ống có thể tạo ra nhiều loại màu sắc. Đèn hơi thủy ngân vượt trội hơn so với đèn sợi đốt trước đó về hiệu quả năng lượng, tuy nhiên ánh sáng xanh lam do nó tạo ra là một hạn chế đáng kể. Tuy nhiên, nó được sử dụng trong chụp ánh và trong một số quy trình công nghiệp khác. Xem thêm tại https://ledphilips.vn/ 2 Nguyên lý làm việc của đèn huỳnh quang Đèn huỳnh quang được cấu tạo gồm 2 bộ phận chính: ống thủy tinh và hai điện cực. Ống thủy tinh: Bên trong có phủ một lớp bột huỳnh quang, có các loại chiều dài: 0,6m, 1,2m, 1,5m,… Điện cực: Được làm bằng dây vonfram có dạng lò xo xoắn, được tráng một lớp bari-oxit để phát ra điện tử. Hai điện cực ở 2 đầu ống, mỗi điện cực có 2 đầu tiếp điện đưa ra ngoài gọi là chân đèn để nối với nguồn điện. Khi đóng công tắc, toàn bộ điện áp đặt vào hai tiếp điểm của tắc te làm xảy ra phóng hồ quang. Thanh lưỡng kim của tắc te biến dạng do nhiệt dẫn đến tiếp điểm động, tiếp xúc với tiếp điểm tĩnh mạch kín dòng điện chạy trong mạch đốt nóng các điện cực. Hồ quang mất, thanh lưỡng kim nguội dẫn đến mở mạch tạo nên điện áp cảm ứng, từ đó xuất hiện hiện tượng phóng điện qua chất khí trong đèn. Hiện tượng phóng điện này phát ra rất nhiều tia tử ngoại, các tia này kích thích bột huỳnh quang làm phát ra bức xạ ánh sáng. Lúc này, thủy ngân sẽ bốc hơi, duy trì hiện tượng phóng điện. Khi đèn sáng, chấn lưu hạn chế dòng điện và ổn định phóng điện.